Nhật Ký 11 – Những cái tên không thể quên (done)

Tôi đã từng không thích quãng, đặc biệt là các quãng tăng và giảm.

Trong kỳ thi tuyển sinh cho cấp đại học tại trường Nhạc cách đây 6 năm, khi được hỏi cảm âm một quãng 5 giảm, tôi đã trả lời sai be bét. Thực chất, tôi chỉ được dạy về khoảng cách của nó trên các dòng kẻ chứ không hề được học để nghe quãng 5 giảm vang lên sẽ như thế nào.

Vì trước đây, ngôi trường cũ luôn khiến tôi tin rằng: Khả năng nghe quãng là một biệt tài thần thánh cũng những người “được chọn”. Tôi không “được chọn”, tôi không có “nó” – the perfect pitch.

Tuy nhiên, khi đã trở thành một giáo viên dạy Piano hơn 10 năm sau, tôi đã hiểu ra rằng khả năng cảm âm của một người phát triển phụ thuộc 90% vào phương pháp người đó đã được tiếp xúc để rèn luyện.

Khi gặp Hansa và cùng con bé trải qua các kỳ thi ABRSM, những sự giác ngộ bất ngờ đến từ các buổi học đem đến cho tôi một niềm tin mới rằng: Chỉ cần có phương pháp luyện tập chính xác, những người bình thường nhất cũng có thể cảm âm được tốt.

Cách đây hơn tháng, tôi luôn lảng tránh khi Hansa hỏi về bài Quãng trong ABRSM Theory Grade 3. Trong tâm trí tôi, đó là bài học vô cùng khô khan và chán ghét, như một nốt mụn dưới da, nặn hoài không thể ra hết. Vì thế, rất nhiều lần đứng trước thắc mắc của con bé, tôi chỉ cười giả: “Chúng ta sẽ nói về nó vào một ngày khác con yêu ạ!”


Cuối cùng thì, “ngày khác” đó cũng đến. Đó là ngày tôi nhận ra, Quãng là chủ đề cuối cùng và duy nhất chúng tôi phải học để hoàn thành nội dung cuốn sách. Dù muốn dù không, tôi vẫn phải đối diện.

Ngày hôm ấy, Hansa rất hào hứng thảo luận về Quãng 6 và 7. Tôi để con bé được tự do tìm hiểu cách tạo ra các quãng 6 trưởng/thứ và 7 trưởng/thứ là như thế nào. Khoảng cách của chúng sẽ bao gồm bao nhiêu cung và nửa cung. Tôi chọn cách này vì không muốn con bé chỉ thuộc bài như vẹt mà chẳng hiểu gì cả.

Xong xuôi lý thuyết đâu vào đấy là đến phần thực hành lắng nghe (ear – training). Trong đầu tôi, bóng ma của viễn cảnh năm nào đã từng ám ảnh tôi có lẽ bây giờ cũng sẽ đến hù doạ con bé. Tôi biết Hansa, con bé không phải là người có cảm âm hoàn hảo.

Và tôi đã đúng, Hansa đã không phân biệt được sự khác biệt giữa quãng 6 trưởng và 6 thứ, cũng như 7 trưởng và 7 thứ. Cảm giác chán nản năm xưa phút chốc dội về như một cơn bão lốc. Nó cuốn phăng tôi ngã nhào xuống một hang động sâu hoắm, bóng tối lút qua đầu tôi. Mắt tôi ngập trong màu đen kịt của sự sợ hãi. Phụp! Thân thể tôi bất động xõng xoài trên đất, tôi nghe như cơ thể mình đang tan vào cái lòng hố đó, từng thớ thịt trên người tôi dần chảy ra và hoà vào bên dưới lòng đất.

Nhưng đột nhiên trong hang động, có một tia sáng gì đó vừa nháy lên rất nhanh qua mắt tôi. Đó là âm thanh của bọn quãng, chúng nói chuyện với nhau như những con người thượng cổ đã trú ngụ trong nơi này từ rất lâu. Mắt mũi của chúng, tôi không thể nhìn thấy được, nhưng âm thanh của chúng dường như có gì đó đồng điệu. Quãng có thể sẽ khó đoán ra, nhưng màu của chúng lại có thể dễ dàng cảm nhận được nếu như chúng được gọi bằng những cái tên đặc biệt.

Tỉnh táo hẳn, tôi ngồi dậy và yêu cầu Hansa nghe lại các quãng 6 trưởng/6 thứ cũng như 7 trưởng/7 thứ thêm vài lần nữa, sau đó thì con bé phải tự đặt tên cho chúng. Khi để Hansa tự do lựa chọn những cái tên, tôi muốn điều này sẽ đánh thức tính cá nhân hoá của con bé và đem đến cho nó nhận thức rằng: Tri thức này là do nó khám phá ra và những gì nó học được đến từ sự trải nghiệm của chính nó chứ không ai khác.

Nhiều cái tên đã được chúng tôi đem ra thảo luận, cuối cùng Hansa chọn “Vui vẻ” cho quãng 6 trưởng và “Thất vọng” cho quãng 6 thứ. Quãng 7 trưởng đem lại cảm giác căng thẳng giống như ai đó đang “Tức giận” còn quãng 7 thứ thì có vẻ như ai đó đang “Khó chịu”.

Chúng tôi thử lại lần nữa, sau khi chơi một trong bốn quãng trên, tôi đặt cho Hansa 2 câu hỏi: “Đây là một quãng xa hay gần?” “Màu của quãng này là gì?”

Cứ như thế, chúng tôi thử hát các màu sắc của quãng trên nhiều giọng khác nhau với hệ thống Đô dịch chuyển. Hát chính là bước quan trọng quyết định quá trình phát triển kỹ năng cảm nhận cao độ của người học nhạc có thể phát triển tốt hơn được trong tương lai hay không. Tập luyện cho trẻ thói quen hát đúng cao độ trong buổi học Piano đóng góp tích cực cho khả năng cảm nhận cao độ âm thanh của trẻ cách chính xác.

Sau mười lăm phút làm quen với phương pháp, tôi nhận thấy Hansa đã có thể nói đúng hơn các cặp tên quãng, tỉ lệ chính xác nhiều hơn so với những lần trước. Chúng tôi đã giúp nhau hệ thống lại những tên gọi của các quãng theo cách cảm nhận của con bé.

Hansa đang ghi chép lại tên của những người bạn mới…

Nhìn Hansa ngồi cặm cụi ghi chép những cái tên nó vừa nghĩ ra cho bọn “quãng”. Tôi lẩm nhẩm: “Nó đúng là như vậy con ạ, bọn quãng đấy! Chúng thật sự là những cái tên không thể quên.”

Nhật ký của một cô giáo dạy Piano

21.01.2019

2 Replies to “Nhật Ký 11 – Những cái tên không thể quên (done)”

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *